Luật mới ban hành

Từ 01/01/2015, nếu không đăng ký sang tên xe, phạt đến 4 triệu đồng

Bài viết này Công ty thuê xe tại Hải Phòng xin chia sẻ với các bạn nghị định Nghị định số 171/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt, trong đó, đáng chú ý là quy định về mức xử phạt đối với các trường hợp không làm thủ tục đăng ký sang tên xe.

Cụ thể, từ ngày 01/01/2015, mức phạt tiền đối với hành vi không làm thủ tục đăng ký sang tên xe (để chuyển tên chủ xe trong Giấy đăng ký xe sang tên của mình) theo quy định khi mua, được cho, được tặng, được phân bổ, điều chuyển, thừa kế tài sản là xe ô tô, máy kéo, xe máy chuyên dùng lần lượt giảm xuống còn 01 – 02 triệu đồng đối với cá nhân và 02 – 04 triệu đồng đối với tổ chức là chủ xe ô tô, máy kéo, xe máy chuyên dùng và các loại xe tương tự xe ô tô (theo quy định trước đây là 06 – 10 triệu đồng). Tương tự, với xe mô tô, xe gắn máy và các loại xe tương tự xe mô tô, mức tiền phạt cũng được giảm đáng kể. Theo đó, từ ngày 01/01/2017, chính thức phạt tiền từ 100.000 đồng – 200.000 đồng hoặc 200.000 đồng – 400.000 đồng  đối với cá nhân hoặc tổ chức là chủ xe mô tô, xe gắn máy không làm thủ tục đăng ký sang tên xe theo quy định của pháp luật (mức xử phạt cũ từ 800.000 đồng – 1,2 triệu đồng).

Ngoài ra, Nghị định cũng bổ sung mức xử phạt đối với một số hành vi vi phạm mới, cụ thể: Phạt tiền từ 300.000 đồng – 400.000 đồng đối với trường hợp điều khiển xe ô tô có liên quan trực tiếp đến vụ tai nạn giao thông mà không dừng lại, không giữ nguyên hiện trường hoặc không tham gia cấp cứu người bị nạn; phạt tiền từ 100.000 đồng – 200.000 đồng đối với người ngồi phía sau vòng tay qua người ngồi phía trước để điều khiển xe mô tô, xe gắn máy (trừ trường hợp chở trẻ em ngồi phía trước); tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 24 tháng hoặc phạt tiền từ 02 – 03 triệu đồng (trường hợp không có Giấy phép lái xe hoặc có nhưng đang bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe) đối với người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy trên đường mà trong cơ thể có chất ma túy…

Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2014.

Cám ơn bạn đã quan tâm.

Xe con sẽ phải dán nhãn tiêu thụ nhiên liệu từ 1/1/2015

Bộ Giao thông Vận tải vừa công bố dự thảo Thông tư “Quy định về kiểm tra, chứng nhận và dán nhãn năng lượng đối với xe ô tô con loại 7 chỗ trở xuống”.

Loại tem thứ 3 mang tên “nhãn năng lượng” sẽ được dán trên kính trước, đi cùng với 2 loại tem đang sử dụng là tem chứng nhận đăng kiểm và tem đóng phí sử dụng đường bộ. Nhãn năng lượng này sẽ bao gồm mức tiêu thụ nhiên liệu của chính ô tô đó. Số liệu sẽ được lấy từ chính đơn vị sản xuất nếu cơ sở thử nghiệm được cơ quan có thẩm quyền nước ngoài cấp phép hoạt động thử nghiệm, có lĩnh vực hoạt động phù hợp, được cơ quan quản lý chất lượng đánh giá và chấp thuận; đồng thời báo cáo thử nghiệm phù hợp với các yêu cầu về phương pháp và chu trình thử tại Việt Nam. Nếu không, một mẫu ngẫu nhiên trong lô xe nhập về sẽ được Cục Đăng kiểm Việt Nam kiểm tra để chứng nhận mức tiêu thụ nhiên liệu. Nếu kết quả chênh hơn 4% so với số liệu công bố thì lấy mức đo được của cơ sở thử nghiệm. Các xe cùng kiểu loại do cùng một cơ sở nhập khẩu đã được kiểm tra cấp chứng nhận và dán nhãn năng lượng trong vòng một năm sẽ được miễn thử nghiệm.

Ngoài mức tiêu thụ nhiên liệu, nhãn năng lượng cũng bao gồm thông tin cơ bản về cơ sở sản xuất, lắp ráp, nhập khẩu, thông tin cơ bản về xe. Các xe nhập khẩu và xe sản xuất lắp ráp với kiểu loại mới sẽ phải dán tem thứ 3 này dự kiến từ ngày 1/1/2015. Xe sản xuất lắp ráp trong nước được cấp chứng nhận an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường trước thời điểm đó sẽ phải dán nhãn năng lượng 1 năm sau đó (1/1/2016). Như vậy, một mặt người tiêu dùng Việt Nam sẽ được hưởng lợi khi tham chiếu mức tiêu thụ nhiên liệu để lựa xe, nhất là trong bối cảnh giá xăng dầu tại nước ta đang biến đối không ngừng với nhiều đợt tăng giá bất ngờ. Tuy nhiên, điều không hợp lý là chức năng của tem mới vẫn do bên đăng kiểm thực hiện và nó có thể tích hợp vào quy trình cấp sổ đăng kiểm hiện hành. Vì vậy, việc đẻ thêm một loại tem nữa dán kính vừa tốn thêm chi phí in ấn, lại khiến kính lái của xe lem nhem chẳng khác nào bảng dán quảng cáo, hạn chế góc nhìn (ví dụ dừng xe gần vạch kẻ, khó quan sát đèn đỏ treo cao).

Theo Sống mới

Quy định mới về xử phạt vi phạm luật giao thông đường bộ

Ngày 19/9/2012, Chính phủ ban hành Nghị định 71/2012/NĐ-CP (có hiệu lực thi hành từ ngày 10/11/2012), sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 34/2010/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ, trong đó có những mức phạt được nâng lên khá cao.

Lái xe chạy quá tốc độ

Điều khiển xe ôtô và các loại xe tương tự ôtô chạy quá tốc độ quy định từ 5 đến dưới 10 km//giờ bị phạt từ 600 đến 800 nghìn đồng; quá tốc độ quy định từ 10 km/giờ đến 20 km/giờ bị phạt từ 2 đến 3 triệu đồng; chạy quá tốc độ quy định trên 20 km/giờ đến 35 km/giờ, bị phạt từ 4 đến 6 triệu đồng; chạy quá tốc độ quy định trên 35 km/giờ hoặc điều khiển xe lạng lách, đánh võng, chạy quá tốc độ đuổi nhau trên đường bộ, bị phạt từ 8 đến 10 triệu đồng. Nếu điều khiển xe lạng lách, đánh võng, chạy quá tốc độ đuổi nhau trên đường bộ mà gây tai nạn hoặc không chấp hành hiệu lệnh dừng xe của người thi hành công vụ hoặc chống người thi hành công vụ, sẽ bị phạt từ 15 đến 25 triệu đồng.

Điều khiển xe môtô, xe gắn máy (kể cả xe máy điện), các loại xe tương tự môtô và các loại xe tương tự xe gắn máy chạy quá tốc độ quy định từ 5km/giờ đến dưới 10km/giờ, bị phạt từ 100 đến 200 nghìn đồng; chạy quá tốc độ quy định từ 10km/giờ đến 20km/giờ, bị phạt từ 500 nghìn đến 1 triệu đồng; điều khiển xe chạy quá tốc độ quy định trên 20km/giờ, bị phạt từ 2 đến 3 triệu đồng.

Lái xe có mùi rượu bia

Điều khiển xe ôtô và các loại xe tương tự ôtô trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 50 miligam đến 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,25 miligam đến 0,4 miligam/1 lít khí thở, bị phạt từ 8 đến 10 triệu đồng; trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,4 miligam/1 lít khí thở, bị phạt từ 10 đến 15 triệu đồng. Ngoài hai mức phạt trên, chỉ có “hơi men” (không cần đến số miligam như nêu trên) khi điều khiển xe ôtô và các loại xe tương tự ôtô trên đường, là bị phạt từ 2 đến 3 triệu đồng. Nói tóm lại, đã “lỡ uống” thì đừng ôm vô lăng lái xe.

Đua xe

Mức phạt nhẹ nhất (từ 1 đến 2 triệu đồng) đối với những người: tụ tập để cổ vũ, kích động hành vi điều khiển xe chạy quá tốc độ quy định, lạng lách, đánh võng, đuổi nhau trên đường hoặc đua xe trái phép; đua xe đạp, đua xe đạp máy, đua xe xích lô, đua xe súc vật kéo, cưỡi súc vật chạy đua trái phép trên đường giao thông.

Mức kế tiếp (từ 4 đến 6 triệu đồng) dành cho những người cổ vũ, kích động đua xe trái phép mà cản trở hoặc chống người thi hành công vụ.

Mức thứ ba (từ 10 đến 20 triệu đồng) để phạt người đua xe môtô, xe gắn máy, xe máy điện trái phép.

Mức thứ tư (từ 20 đến 30 triệu đồng) để phạt người đua xe ôtô trái phép.

Mức thứ năm (từ 30 đến 40 triệu đồng) để phạt Người đua xe ôtô, xe môtô, xe gắn máy, xe máy điện, xe đạp máy mà chống người thi hành công vụ; người tổ chức đua xe trái phép.

Các mức phạt nêu trên là áp dụng chung trong cả nước, riêng tại khu vực nội thành các thành phố trực thuộc trung ương, có một số vi phạm có mức phạt nặng hơn. Tùy theo từng lỗi vi phạm, ngoài việc bị phạt tiền, người điều khiển xe còn bị áp dụng các hình thức xử phạt bổ sung, như tước quyền sử dụng giấy phép lái xe, tịch thu phương triện…

Phòng PX21 CATP

Luật giao thông đường bộ mới

Ngày 13/11/2008, quốc hội đã thông qua luật Giao thông đường bộ thay thế luật Giao thông đường bộ thông qua ngày 29/06/2001. Luật này có hiệu lực từ ngày 01/07/2009 và sẽ có một số văn bản dưới luật khác được ban hành để thay thế các văn bản hiện nay.

Nội dung luật Giao thông đường bộ mới có thể tải về tại địa chỉ: http://www.chinhphu.vn/vanbanpq/lawdocs/L23QH.DOC?id=83559

So sánh với luật cũ (tải về tại địa chỉ: http://www.chinhphu.vn/vanbanpq/lawdocs/L26QH.rtf?id=9730) ở phần nội dung có liên quan đến ô tô và người điều khiển ô tô, có một số thay đổi như sau:

1. Quy định chặt hơn về Các hành vi bị nghiêm cấm (điều 8):
8. Điều khiển xe ô tô, máy kéo, xe máy chuyên dùng trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn.
Điều khiển xe mô tô, xe gắn máy mà trong máu có nồng độ cồn vượt quá 50 miligam/100 mililít máu hoặc 0,25 miligam/1 lít khí thở.

Trong luật cũ:
8. Người lái xe đang điều khiển xe trên đường mà trong máu có nồng độ cồn vượt quá 80 miligam/100 mililít máu hoặc 40 miligam/1lít khí thở hoặc có các chất kích thích khác mà pháp luật cấm sử dụng.

2. Giải thích rõ hơn về các khái niệm “dừng xe” và “đỗ xe” (điều 18):
1. Dừng xe là trạng thái đứng yên tạm thời của phương tiện giao thông trong một khoảng thời gian cần thiết đủ để cho người lên, xuống phương tiện, xếp dỡ hàng hóa hoặc thực hiện công việc khác.
2. Đỗ xe là trạng thái đứng yên của phương tiện giao thông không giới hạn thời gian.
Đồng thời làm rõ hơn quy định khi dừng xe:
e) Khi dừng xe, không được tắt máy và không được rời khỏi vị trí lái;

Trong luật cũ:
e) Xe cơ giới khi dừng, người lái xe không được rời khỏi vị trí lái;
3. Quy định chặt chẽ hơn về dừng xe, đỗ xe trong đô thị (điều 19):
1. Phải cho xe dừng, đỗ sát theo lề đường, hè phố phía bên phải theo chiều đi của mình; bánh xe gần nhất không được cách xa lề đường, hè phố quá 0,25 mét và không gây cản trở, nguy hiểm cho giao thông. Trường hợp đường phố hẹp, phải dừng xe, đỗ xe ở vị trí cách xe ô tô đang đỗ bên kia đường tối thiểu 20 mét.
2. Không được dừng xe, đỗ xe trên đường xe điện, trên miệng cống thoát nước, miệng hầm của đường điện thoại, điện cao thế, chỗ dành riêng cho xe chữa cháy lấy nước. Không được để phương tiện giao thông ở lòng đường, hè phố trái quy định.
Trong luật cũ:
1. Phải cho xe dừng, đỗ sát hè phố phía bên phải theo chiều đi của mình; trường hợp đường phố hẹp, phải dừng xe, đỗ xe ở vị trí cách xe ô tô đang đỗ bên kia đường tối thiểu 20 mét;
2. Không được dừng xe, đỗ xe trên đường xe điện. Không được để phương tiện giao thông ở lòng đường, hè phố trái quy định.

4. Có thêm quy định về Xếp hàng hóa trên phương tiện giao thông đường bộ (điều 20).
1. Hàng hóa xếp trên xe phải gọn gàng, chằng buộc chắc chắn, không để rơi vãi dọc đường, không kéo lê hàng hóa trên mặt đường và không cản trở việc điều khiển xe.
2. Khi xếp hàng hóa vượt phía trước và phía sau xe thì ban ngày phải có cờ báo hiệu màu đỏ, ban đêm hoặc khi trời tối phải có đèn đỏ báo hiệu.
3. Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải quy định cụ thể việc xếp hàng hóa trên phương tiện giao thông đường bộ.

5. Sửa đổi bổ sung một số quy định về giao thông trên đường cao tốc (điều 26)
c) Không được cho xe chạy ở làn dừng xe khẩn cấp và phần lề đường;

Trong luật cũ (điều 24):
c) Không được cho xe chạy ở phần lề đường;
d) Không được quay đầu xe, lùi xe; (không có trong luật mới).

6. Bỏ một số quy định về giao thông trong hầm đường bộ (điều 26)
Trong luật cũ (điều 25):
c) Không được quay đầu xe, lùi xe; (không có trong luật mới).

7. Sửa đổi một số quy định về niên hạn phương tiện cơ giới (điều 53)
4. Chính phủ quy định niên hạn sử dụng đối với xe cơ giới.

Trong luật cũ (điều 48):
4. Chính phủ quy định niên hạn sử dụng đối với các loại xe ô tô kinh doanh vận tải.

8. Bổ sung quy định về các loại giấy tờ phải mang theo khi điều khiển phương tiện (điều 58).
2. Người lái xe khi điều khiển phương tiện phải mang theo các giấy tờ sau:
a) Đăng ký xe;
b) Giấy phép lái xe đối với người điều khiển xe cơ giới quy định tại Điều 59 của Luật này;
c) Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường đối với xe cơ giới quy định tại Điều 55 của Luật này;
d) Giấy chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới.

Quy định về vận chuyển khách du lịch bằng ô tô và cấp biển hiệu cho ô tô vận chuyển khách du lịch

Thông tư liên tịch số 05/2011/TTLT-BVHTTDL-BGTVT của liên Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và Bộ Giao thông Vận tải quy định về vận chuyển khách du lịch bằng ô tô và cấp biển hiệu cho xe ô tô vận chuyển khách du lịch được ban hành vào ngày 26/01/2011 (có hiệu lực sau 45 ngày kể từ ngày ký).

Thông tư bao gồm 3 phần, 12 điều; quy định về hoạt động vận chuyển khách du lịch bằng ô tô và cấp biển hiệu “xe ô tô vận chuyển khách du lịch” trên lãnh thổ Việt Nam. Đối tượng áp dụng của Thông tư là các cơ quan quản lý nhà nước theo thẩm quyền, cơ quan, tổ chức tham gia quản lý hoạt động kinh doanh vận tải khách du lịch bằng xe ô tô; doanh nghiệp, hợp tác xã và các hộ kinh doanh tham gia kinh doanh vận chuyển khách du lịch bằng xe ô tô.

Thông tư bao gồm các điều quy định cụ thể về: nội thất, tiện nghi đối với xe ô tô vận chuyển khách du lịch; lái xe và nhân viên phục vụ trên xe ô tô vận chuyển khách du lịch; hồ sơ đề nghị cấp biển hiệu xe ô tô vận chuyển khách du lịch; thủ tục cấp biển hiệu xe ô tô vận chuyển khách du lịch; biển hiệu và thời hạn biển hiệu xe ô tô vận chuyển khách du lịch; ưu tiên đối với ô tô có biển hiệu xe ô tô vận chuyển khách du lịch.

Nguồn: www.vtr.org.vn